Hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu. Hãy đem mạng sống báo đền mạng sống. Anh chị em ơi! Thủy chung một lòng, ta giữ nghĩa cùng Chúa Giêsu. Cho đến hết hơi, cho đến trọn đời, ta giữ nghĩa cùng Chúa Giêsu  
.:: HÌNH ẢNH MỚI ::.
 
Người Tín Hữu

Viên Triết Đạo

Hội thừa sai Paris

Thân Nho

Thời điểm Maria

Trung tâm Mục vụ London

Giáo hạt Phú Yên

Giáo xứ Tuy Hòa

.: Đêm tọa đàm-Thơ-Nhạc phát huy văn học Công Giáo (Cập nhật: 04:58 15/06/2006)

ĐÊM TỌA ĐÀM-THƠ-NHẠC


PHÁT HUY VĂN HỌC-NGHỆ THUẬT ANRÊ PHÚ YÊN


Trung Tâm Mục Vụ Anrê Phú Yên , 15.05.2006


*********


NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH


Từ 19.00 – 21.00 giờ đêm 15.06.2006


_________


 


vỔn định, giới thiệu thành phần.


vGiới thiệu lý do và ý nghĩa trọng tâm (Bùi phương Hạc)


vHợp ca khai mạc : Tình yêu đáp trả tình yêu (Lớp Thanh Khiết giáo lý thiếu nhi)


vLời mở đầu : Truyền thống văn học Công Giáo Qui Nhơn từ Anrê Phú Yên tới hôm nay (Cha TĐH)


-Ngâm thơ : Trầm Hương (Nhóm thơ TH)


-Đơn Ca : Bất Diệt (Kim Tuyến)


vMột phương thức phát huy văn học nghệ thuật trong bối cảnh mục vụ hôm nay : Báo Tường (Cha TTT)


-Hợp Ca : Từ lòng Đất mẹ (CĐ Hiện Xuống)


-Ngâm thơ : Ra Đời (Nhóm thơ TH)


vPhát biểu của tham dự viên


-Ngâm thơ : Đức Mẹ khóc con (nhóm thơ TH)


-Đơn ca : Đời con là chiếc bóng của Ngài (Trần thị Sương)


vCông bố thể lệ giải thưởng Báo Tường Hạt Phú yên lần thứ I


-Song Ca : Ngợi ca Chân Phước Anrê (Hạnh Giao – Kim Loan)


-Ngâm thơ: Bất diệt (Nhóm thơ Tuy Hòa)


-Tốp ca : Tôn vinh Á Thánh Anrê Phú yên


vCảm tạ - Phép lành bế mạc : (Cha TĐH)


-Kinh Á Thánh Anrê Phú yên


-Đồng ca kết thúc : Nhớ về tiên tổ chứng nhân


 


 


___________


 


GIỚI THIỆU LY DO VÀ Y NGHIA TRONG TÂM


 


 


Phêrô Bùi Phương Hạc


 


Hỡi cô tác nước bên đàng


Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi


Hiểu theo môt ý nghia hiện thực câu ca dao trong xã hội hôm nay. Người ta can tâm “múc ánh trăng vàng đổ đi” một cách hoài phí . Ngay cả những người Công Giáo đôi khi ánh trăng vàng không còn vấn vương trong kiếp nhân sinh.


Hôm nay thật là một ngày lịch sử của Giáo xư. Tiếp tục truyền thống các vị tiền nhân. Từ bia đá chữ quốc ngữ , biết bao công trình văn chương CôngGiáo để lại cho đời . Các vị mục tử trong Giáo xứ trăn trở thao thức” Muốn đem đạo Thiên Chúa ở xứ này tạo nên một không khí kết tinh thành thơ’’, như lời giới thiệu của Hoài Thanh Hoài Chân về bài Ave Maria của Hàn mặc Tử :


Maria Linh hồn tôi ớn lạnh


Run như run Thần tử thấy long nhan


Run như run Hơi thở chạm tơ vàng


Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn triều mến


Có thể nói hôm nay chúng ta muốn ánh trăng vàng rọi chiếulòng tin của chúng ta. Hơn thế nữa và là lý do cao sau nhất, không phải đề cao một tác phẩm một tác giả nào, mà làm giàu một phong cách Văn Dĩ Tải Đạo. Dùng văn chương nghệ thuật để chuyển tải Tin mừng đến cho mọi người, như lời mở đầu Sứ Điệp Tình Thương của Cha Nguyễn xuân Văn.


Ta muốn đem lời Chúa


Lời Thơ tình thương


Ghép thành vần


Đặt lên miệng các bà mẹ


Để từ đó


Chảy vào tai các em bé


Đang nằm trong nôi


Hay trên cánh tay dịu hiền của các bà mẹ


Như dòng sữa ngọt


Chứa đày chất dinh dưỡng siêu phàm


Đễ nuôi các em lớn lên


Trong tình thương của Chúa


Văn Chương Nghệ thuật Công Giáo có thể ví như thuyền trăng chuyên chở lòng tinthấm nhập vào máu thịt văn chương nhân loại.


Như một tiếp nối “buổi sáng Ngày lễ Ngũ Tuần năm nào”, và “một ngày nhạt nắng trên đỉnh đồi Galilê của hai ngàn năm trước”, hôm nay chúng ta cùng cất bước lên đường, để trăng được rọi chiếu, khung trời nhấp nháy sao đêm, hơi ấm, nụ cười nở hoa trong lòng người đóng băng khô cằn tẻ nhạt, trống vắng.


Vì đôi mắt không còn biết trông lên


Tôi sẽ đọc Thượng đế thành bài thơ


Phổ thành bài ca cho em hát


Viết thành điệu nhạc để em ngâm


Họa thành bức tranh cho em ngăm


Vì em là người


Đôi mắt trông lên


(Cho em Thượng Đế Của Trăng Thập Tự)


Vâng tất cả Vì Muốn Chúng Ta Làm Người Đôi Mắt Biết Trông lên.


 


________________


 


TRUYỀN THỐNG VĂN HỌC CÔNG GIÁO


TỪ ANRÊ PHÚ YÊN ĐẾN NAY


 


Bài tham luận của Lm. Giuse Trương Đình Hiền


Nhân dịp tổ chức đêm “Tọa đàm-thơ-Nhạc phát huy văn học nghệ thuật Anrê phú Yên” tại Trung Tâm Mục Vụ Tổng Hợp Anrê Phú yên Giáo xứ Tuy Hòa, xin được khái quát đôi nét về một “Truyền Thống Văn Học Công Giáo từ Anrê Phú yên đến nay”


I. CÓ HAY KHÔNG MỘT TRUYỀN THỐNG VĂN HỌC CÔNG GIÁO TẠI VIỆT NAM ?


Để trả lời cho câu hỏi nầy, có lẽ chúng ta phải bắt đầu từ một khái niệm bao quát hơn, vượt ra ngoài phạm vi “văn chương, học thuật”, đó là khái niệm “văn hóa Công Giáo”.


1. Có chăng một nền văn hóa Công Giáo tại Việt Nam ? ([1]).


Vấn nạn nầy, thực ra đã được các nhà nghiên cứu chuyên môn về lãnh vực văn hóa tôn giáo, đặc biệt “văn hóa Công Giáo” tại Việt nam đem ra bàn luận và mổ xẻ. Cụ thể, chúng ta có thể tìm thấy một số nhận định có liên quan đến đề tài nầy trong cuộc “Tọa Đàm về Văn Hóa Công Giáo từ khởi thủy đến đầu thế kỷ 20” được UBGM về giáo dân tổ chức tại tòa TGMHuế từ ngày 24 đến 27 tháng 10 năm 2000.


Câu trả lời của LM. Thiện Cẩm ([2]):


Câu hỏi thật khó trả lời. Nếu khẳng định là có, thì xem ra rất là mạo hiểm, bởi vì không dễ gì chứng minh được. Nhưng nếu khẳng định rằng không, thì xem ra phủ nhận một thực tại, tuy có thể không rõ nét, nhưng vẫn ẩn hiện đâu đây, không chối cãi được ; nó cũng giống như không khí chúng ta thở, tuy không hình thù màu sắc, và không có thể nhìn thấy được nhưng không thể phủ nhận…


Trong các nghệ thuật khác như văn chương, thi ca, hội họa, tuy có lẽ người Công giáo chưa để lại được gì nhiều, so với nghệ thuật Phật Giáo, nhưng một Hàn Mặc Tử, cũng đã tạo ra được một sắc thái Công Giáo Việt nam khá nổi bật…


Người Việt nam Công giáo dã tạo ra cho mình những nét văn hóa đặc thù, ăn sâu vào mọi phạm vi của dời sống. Từ làng xã đến thơ văn, nghệ thuật và kiến trúc, âm nhạc v.v..So với các tôn giáo khác, khách quan mà nói, người Công Giáo đã cống hiến cho dân tộc một kho tàng âm nhạc độc đáo và phong phú, tới mức ở nhiều địa phương, nhất là các vùng quê, các ca doàn nhà thờ nhiều khi đã trở thành “chủ lực” trong phong trào ca nhạc quần chúng…


Về những mặt khác, như hội họa, kiến trúc, tuy chưa có được nhiều những tác phẩm, như đáng lẽ phải có, nhưng một nhà thờ Phát Diệm, một bức tranh sơn mài Giáng Sinh của danh họa Nguyến Gia Trí, cũng đủ chứng minh cho khả năng của nghệ thuật Công Giáo, tuy ít, nhưng lại đạt tới những đỉnh cao không thể nào chối cãi”


Trong khi đó, một nhà nghiên cứu ngoài Công giáo, PGS Nguyễn Văn Kiệm, trong tác phẩm “Sự du nhập của Đạo Thiên Chúa vào Việt nam” đã khẳng định:


Tôn giáo nầy cũng tập hợp các giáo hữu của mình thành những cộng đồng có nếp sống văn hóa đặc trưng : văn hóa Kitô giáo. Đó là một cộng đồng gắn bó với nhau rất chặt chẽ trong một đức tin không thể lay chuyển, trong một hệ thống giáo luật không thể vi phạm, trong một tổ chức nhân sự chặt chẽ, cùng với những lễ nghi tôn nghiêm, những sinh hoạt tâm linh mang tính quy phạm và thống nhất rất cao, tạo nên trong mỗi người giáo hữu một cuộc sống tinh thần ổn định, thăng bằng, tin tưởng vào cuộc sống hiện tại cũng như ở thế giới bên kia, một ý thức tự tu dưỡng về phẩm cách để xứng đáng được hưởng phúc trong cuộc sống nơi trần thế cũng như trong cõi vĩnh hằng…”([3])


Sau đó Giáo sư Nguyễn Văn kiệm đã liệt kê những đóng góp cụ thể của Đạo Công Giáo cho nền văn hóa Đất Nước qua các lãnh vực :


§Từ thiện bác ái : “Trong những điều kiện hoàn cảnh cho phép, người Thiên chúa Giáo không quản khó khăn, tốn kém, để cưu mang những người ngoại đạo trong cơn hoạn nạn bằng nhiều hình thức khác nhau, và luôn khuyến dụ người bên đời cải giáo để được hưởng ơn cứu rỗi của Chúa, với một động cơ rất chân thành và vô tư”


“Ở những vùng có những trung tâm Thiên Chúa giáo mạnh, những hoạt động từ thiện của Nhà thờ Thiên Chúa giáo đã có một đóng góp không nhỏ vào việc làm dịu nỗi đau của dân chúng lao động trước những bất hạnh của cuộc đời. Những cuộc từ thiện nầy của nhà thờ Thiên chúa Giáo cũng đã góp phần vào việc củng cố sự thân thiện giữa bên đạo và bên đời, làm giảm nhẹ sự đối lập về tín ngưỡng và tập tục sinh hoạt giữa cộng đồng Thiên Chúa giáo và không Thiên chúa giáo, giúp cho hai cộng đồng sống hòa bình bên nhau” ([4])


§Du nhập các thành tựu văn minh phương tây ([5]) :


Chữ quốc ngữ : “Cần nhấn mạnh thêm rằng, trong khi xã hội chưa quan tâm tới chữ “quốc ngữ” thì nó vẫn được Giáo Hội Thiên Chúa sử dụng, nuôi dưỡng, cải tiến, không để nó bị mai một và khi có cơ hội xuất hiện, nó đã đạt tới trình độ khá hoàn hảo. Công lao đó của Giáo hội Thiên chúa đối với chữ “quốc ngữ” cần phải được trân trọng ghi nhận”


Kiến thức khoa học : “Những kiến thức khoa học phương Tây, chủ yếu là khoa học tự nhiên (cơ khí, toán học, vật lý, thiên văn, y học, v.v…) sớm được giới thiệu ở Việt nam”


Công nghệ in ấn : “Nhằm hỗ trợ cho Giáo Hội Thiên chúa giáo Việt nam được ổn định và thịnh vượng, các giáo sĩ thừa sai đã triển khai nhiều họat động quan trọng trong đó có việc du nhập và phát triển một số ngành công nghệ phục vụ trực tiếp cho việc truyền giáo và củng cố Giáo Hội, đặc biệt là sự du nhập của ngành in hiện đại : In thạch bản, in bằng các con chữ rời…”


Nghệ thuật kiến trúc : “Từ sau điều ước Giáp tuất (1874), trong đó có điều khoản bảo đảm cho Thiên chúa giáo được truyền bá tự do, các giáo phận mới nghĩ đến việc xây dựng các nhà thờ kiên cố, kiến trúc đẹp, phục vụ sinh hoạt tâm linh của giáo dân…”


Văn hóa giáo dục : “Tính tiên tiến của phương pháp học tập Phương Tây cũng lại được du nhập vào Việt nam khá sớm qua con đường truyền giáo…Các thừa sai cũng rất quan tâm tới việc mở những trường học theo kiểu phương tây, dạy các môn khoa học thực dụng….Vậy là trong lãnh vực giáo dục kiểu mới, Giáo Hội Thiên Chúa Giáo Việt nam cũng vẫn đi đầu và rất có uy tín trong việc bảo đảm chất lượng học tập của học sinh trường mình ngay cả sau khi các trường công của chính phủ bảo hộ đã được mở đồng loạt vào đầu thế kỷ XX”.


Chúng ta có thể mượn ý tưởng của giáo sư Chương Thâu, trong bài tham luận “Vài ý kiến về Công Giáo với Văn Hóa Việt nam” trong cuộc “Tọa Đàm về Văn Hóa Công Giáo từ khởi thủy đến đầu thế kỷ 20” đã được nhắc đến ở trên để kết thúc vấn nạn được nêu lên từ đầu : “Có chăng một nền văn hóa Công Giáo?”


“Mặt khác về tôn giáo tín ngưỡng mà nói thì trong truyền thống Việt nam vốn chưa có tôn giáo thờ Đức Chúa Trời. Nhưng từ thế kỷ XVII trở về sau, ở Việt Nam đã du nhập thêm tôn giáo nầy với tất cả tín điều, lễ tiết, giáo luật của nó. Đời sống văn hóa của cộng đồng dân tộc Việt Nam, từ đây có thêm một tín ngưỡng tôn giáo mới và ngày càng phát triển. Số lượng giáo dân ngày càng đông.” ([6])


Người Việt nam Công Giáo, ngoài chức phận là công dân, họ còn là người tín hữu và có một sinh hoạt tôn giáo riêng. Đạo Công Giáo với những đức tin của nó, với những nét đặc thù của nó, dần dần trở thành có một “tập quán” phong tục riêng của công chúng giáo dân trong xã hội Việt Nam…Những tính chất đa dạng và phong phú đó, một cách tất yếu, từ đây được hội nhập vào nền văn hóa Việt nam, làm phong phú thêm đời sống văn hóa của Dân tộc ta. Đó là một thực tế khách quan không thể phủ nhận được. Những yếu tố văn hóa Công Giáo này được hội nhập vào nền văn hóa truyền thống khác, và đó cũng chính là qui luật chung trong đời sống văn hóa của toàn nhân loại”


2. Có chăng một truyền thống văn học Công Giáo Việt nam :


Nói tới văn học là đề cập tới phạm vi tư tưởng, tác phẩm. Khi đặt vấn nạn : “Có chăng một truyền thống văn học Công Giáo Việt nam”, GS Chương Thâu trong bài tham luận đã nêu đưa ra nhận xét : “Có ý kiến cho rằng, trong cả mấy thế kỷ, tư tưởng Thiên chúa giáo đã không thấm được vào văn học, nghệ thuật, học thuật của nước ta, cũng không nổ ra cuộc tranh luận ồn ào, gay gắt về lý thuyết giữa các tôn giáo Nho, Phật, Lão với tôn giáo nầy. Nhưng gần đây, qua một số “phát hiện mới” (thực ra là một sự nhận thức lại) đối với một số tác phẩm văn thơ của các tác giả người Công Giáo dưới thời cận đại, nhất là từ cuối thế kỷ XIX đến những năm 40 của thế kỷ nầy…trong đó có đậm nét “tư duy đạo”.([7])


Để trả lời cho câu vấn nạn được đặt ra và còn bỏ lững của GS Chương Thâu, xin được trích dẫn một đoạn trong bài tham luận “Ngôn Ngữ Tin Mừng mang dáng đứng Việt nam” trong cuộc tọa đàm kỷ niệm lễ giỗ hai năm qua đời của cố linh mục thi sĩ Nguyễn Xuân Văn (10.01.2004). Đây chỉ là khái quát về những đóng góp của công Giáo trong lãnh vực văn học mà theo ngôn ngữ mục vụ thần học hôm nay đó là công tác “Hội Nhập Văn Hóa”. Nói cách khác, trong dòng chảy Văn học Việt nam, đã có một Truyền thống văn học Công Giáo.


“Không đợi phải có “Công đồng chung Vatican II với định hướng của Hiến Chế “Vui Mừng và Hy vọng”, không đợi đến những chỉ thị cụ thể có tính mục vụ thực tiển của Tông huấn “Giáo Hội tại Á Châu”, ngay từ đầu, khi Tin Mừng được gieo trồng trên Đất Việt, Cha Ông ta đã biết thế nào là “Hội nhập văn hoá”, thế nào là “diễn tả Tin Mừng bằng ngôn ngữ và văn hoá bản địa”, thế nào là “trình bày ngôn ngữ Tin Mừng trong dáng đứng Việt Nam”. Chúng ta thử đọc lại chứng từ của Cha Đắc Lộ, một Nhà truyền giáo vĩ đại, một nhà văn hóa lớn khi nói về công nương Catarina, một tín hữu của giai đoạn Tin Mừng mới đi vào Đất Nước ta : “Còn con gái Bà, công nương Catarina (cùng mang thánh dánh như mẹ) rất ham học biết và suy gẫm các mầu nhiệm của đạo, và vì công nương rất giỏi về thi ca bản xứ, nên đã soạn bằng thơ rất hay tất cả lịch sử giáo lý, từ tạo thiên lập địa cho đến Đức Ki-tô giáng thế, cuộc đời, sự thương khó, Phục sinh và Lên trời của Người. Lại còn thêm ở cuối tập thơ một đoạn tường thuật việc chúng tôi tới Đàng Ngoài và công cuộc khởi sự rao giảng Tin Mừng. Tác phẩm nầy rất có ích vì không những giáo dân tân tòng từng ngâm nga trong nhà, nơi thành thị cũng như chốn thôn quê, mà cả nhiều lương dân, khi ca hát và thích thú với lời ca dịu dàng, thì cũng học biết được những mầu nhiệm và chân lý đức tin” (A. De Rhodes- Histoirre du Royaume de Tunquin. Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài). Nhà học giả Phạm Đình Khiêm, trong bài tham luận tại cuộc TỌA ĐÀM “MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN HÓA CÔNG GIÁO VIỆT NAM TỪ KHỞI THỦY ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX”, đã nhận xét thêm về sự kiện nầy bằng những dòng trân trọng : “Thế là khi đức tin vừa gieo vào lòng đất chốn kinh kỳ (1627), thì từ một lá ngọc cành vàng đã nảy sinh thiên trường ca vang dội khắp xứ, nhờ phương tiện phổ biến là những bản in khắc gỗ mà đất Thăng Long rất sở trường. Đất nghìn năm văn vật có khác!”. (Nhìn qua những chặng đường thi ca Công Giáo Việt Nam. Phạm Đình Khiêm).


- Trước hết, chúng ta nên dành riêng sự trân trọng và biết ơn đến các Thừa sai tiên phong đem Tin Mừng Đạo Chúa đến quê hương nầy, và đã vận dụng ngôn ngữ Việt Nam để chuyển tải Tin Mừng cho dân Việt chúng ta. Dấu ấn đặc biệt nhất có lẽ là tác phẩm giáo lý bằng chữ quốc ngữ đầu tiên : “PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY” do Cha A. De Rhodes chủ biên và xuất bản năm 1651) cùng với cuốn tự điển Việt-Bồ-La.


Kế tiếp những công trình “hội nhập văn hóa” mang tính đột phá và tiên phong đó, Hội Thánh non trẻ Việt Nam tiếp tục lên đường chuyển tải Tin Mừng và chân lý cứu độ qua những công trình văn học mà cho đến mãi hôm nay chúng ta chỉ biết cúi đầu bái phục :


- Giáo sĩ Majorica (Dòng Tên) : với trên 50 tác phẩm vừa dịch, biên soạn, sáng tác bằng văn xuôi hay văn vần chữ Nôm chuyển tải giáo lý, hạnh các thánh…


- Thầy Phanxicô, cựu hòa thượng : Với tác phẩm Hán-Nôm là bản Kinh Nguyện Giỗ CẢM TẠ NIỆM TỪ, quen gọi là PHỤC DĨ CHÍ TÔN


- Thầy giảng Gioan Thanh Minh : Với 15 phẩm bằng chữ Nôm ca ngợi các danh nhân, các Thánh


- Linh mục Lữ –Y Đoan (1613-1678): Với tác phẩm SẤM TRUYỀN CA bằng thể thơ lục bát


- Ông Raphael Đắc Lộ (1611-1687) : Với các tác phẩm thi ca : VÃN THÁNH GIUSE và VÃN ÔNG TOBIA


- Tác phẩm lục bát trường thi INÊ TỬ ĐẠO VÃN với 563 câu thơ lục bát kể chuyện tử đạo của Bà Inê năm 1700


- Linh mục Philipphê Bỉnh viết nhiều tác phẩm với nhiều thể loại : trước tác, biên soạn, dịch thuật, hồi ký, thơ… đặc biệt với tác phẩm SÁCH SỔ SANG CHÉP CÁC VIỆC


- Linh mục Đặng Đức Tuấn (1806-1874) : Nhiều tác phẩm Hán-Nôm : VIỆT NAM GIÁO SỬ DIỄN CA, LÂM NẠN PHỤC QUỐC HÀNH, MINH DÂN VỆ ĐẠO KHÚC, VĂN TẾ GIÁO DÂN TỬ NẠN, VĂN TẾ CÁC ĐẲNG LINH HỒN, GIÁO NẠN TRONG QUỐC BIẾN…


- Thánh Phan văn Minh : Với thi phẩm “PHI NĂNG THI TẬP”


-Linh mục Trần Lục (1825-1899) : Với các tác phẩm thi ca lục bát : HIẾU TỰ CA (1088 câu), NỮ TẮC THƯỜNG LỄ (1016 câu), NỊCH ÁI VONG ÂN (440 câu).


- Ngoài những tác giả với tác phẩm, tư liệu mang tính chuyên môn về thần học, giáo lý, tu đức…, còn có nhiều loại hình “hội nhập văn hóa khác” trong các lãnh vực khác như : chính trị (Các bản điều trần của LM. Đặng Đức Tuấn, Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) ; kiến trúc : (các nhà thờ Hảo Nho, Bình Sa (Ninh Bình), An Vân, Đốc Sơ, An Truyền (Huế), Trung Lao, Thôn Đông (Nam Định), Ba Làng (Thanh Hóa), đặc biệt là quần thể kiến trúc Nhà Thờ Phát Diệm (Kim Sơn, Ninh Bình) ; sử học (Đại Nam quốc sử diễn ca của Trương vĩnh Ký (1837-1898), tiểu thuyêt (Truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887) ; kịch (Kịch thơ Mùa Xuân Thánh, Quần Tiên Hội của thi sĩ Đơn Phương 1991) ; múa (Các loại hình Dâng Hoa tháng Đức Mẹ) ; Biên khảo, nghiên cứu (Phạm Đình Khiêm, Võ Long Tê (Mai Hoa Công Chúa, Minh Đức Vương Thái Phi, Người chứng Thứ Nhất : biên khảo lịch sử của học giả Phạm Đình Khiêm ; riêng Võ Long Tê có trên 50 công trình nghiên cứu và sáng tác. Trong số đó phải kể các công trình nghiên cứu thơ ca Hàn Mặc Tử…) ; báo chí(Thánh Thể báo, 1919 địa phận Phát Diệm, Thánh Giáo Tuần Báo Bắc Kỳ (1920-1923), Trung Hòa Nhật Báo (Hà Nội, 1924-1943), nhật báo Công Giáo Đồng Thinh, 1927-1937 và tờ tuần báo Công Giáo Tiến Hành , 1936-1938, tạp chí Sacerdos indosinensis (1927, tạp chí Dức Bà Hằng Cứu Giúp (1929 của ĐP Hà Nội, tuần báo Văn Côi (Nam Định), Vì Chúa (Huế), Lời Thăm (Qui Nhơn)…; thi ca (Thơ Nôm Phước Môn tuyển tập thơ của Nguyễn Hữu Bài do Nguyễn Thức sưu tập (1959), Sảng Đình thi tập của linh mục J.M. Nguyễn Văn Thích (1943). Trong lãnh vực thi ca, chúng ta làm sao không nhắc đến những tên tuổi lừng danh trên thi đàn Việt Nam như :


- Hàn Mặc Tử (1912-1940) với những bài thơ bất hủ như Thánh Nữ Đồng Trinh, Ra Đời,


- Bàng Bá Lân (1912-1988), một Kitô hữu tân tòng, với các bài thơ “Đêm Giáng Sinh”, “Cầu nguyện với Đức Mẹ”, “Cảm hóa.


- Hồ Dzếnh (1916-1991), một Kitô hữu tân tòng, với tuyển tập thơ “Tác Phẩm Đầu Xuân (1944) với nhiều bài thơ Công Giáo.


- Phạm Đình Tân (1913-1933) : với tập thơ “Lời Thiêng”


- Linh mục thi sĩ Xuân Ly Băng (1936) : Với nhiều tập thơ đạo như Thơ Kinh, Hương Kinh, Hiến Chương Nước Trời, Bài Ca Thương Khó…


- Lê Đình Bảng (1942) : với các thi phẩm : Hành Hương, Lời tự tình của bến trần gian, Quỳ trước đến vàng…


- Linh mục Trăng Thập Tự : Trường ca Anrê Phú Yên, Tiên Tri, Quỳ Hoa và tuyển tập ‘có ai về Cát minh”.


Chúng ta còn phải ghi nhận nhiều đóng góp khác trong việc diễn tả Lời Chúa, Thánh Kinh bằng ngôn ngữ Việt Nam, cho dù không phải là những tác phẩm được phổ biến sâu rộng, nhưng đã góp phần không nhỏ trong tiến trình Hội Nhập Văn Hóa của Giáo Hội Việt Nam. Đó là các nỗ lực của các tác giả như Tống Viết Toại (Phúc Âm diễn ca, 1956), Mai Lâm (Thánh Vịnh Toàn tập, 1958), Long Giang Tử (Phúc Âm diễn ca, 1975), Linh mục An Sơn V (Ngủ Kinh, Thánh Vịnh thánh ca, Tân ước), Linh mục Giuse Đinh Cao Thuấn (Trường ca cứu độ , Ca vang Lời Chúa, đường về Đất hứa,), linh mục Cao Vĩnh Phan (Trường ca Dân Chúa : giáo lý bằng thơ lục bát), linh mục Lê quang Trình (Kinh thánh Khởi nguyên, Thánh Vịnh bằng thơ lục bát)…và hôm nay, chúng ta đang tưởng niệm, đang nhắc nhớ đến một con người, một linh mục và một thi sĩ đã góp phần to lớn trong tiến trình Hội Nhập Văn Hóa của Hội Thánh Việt Nam : đó là Cha F.X. Nguyễn Xuân Văn với đại thi phẩm trường thiên lục bát 9764 câu thơ, thi phẩm về cuộc đời Chúa Cứu Thế qua bốn Tin Mừng : “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”. ([8])


 


II : TRUYỀN THỐNG VĂN HỌC CÔNG GIÁO QUI NHƠN TỪ ANRÊ PHÚ YÊN ĐẾN NAY:


1. NHỮNG VIÊN ĐÁ NỀN MÓNG : CHA ĐẮC LỘ - ANRÊ PHÚ YÊN VÀ CỘNG ĐOÀN THẦY GIẢNG :


Để nhận rõ vai trò quan trọng của Cha Đắc Lộ, Thầy giảng Á Thánh Anrê Phú Yên và cộng đoàn Thầy Giảng (do Cha Đắc Lộ thiết lập) trong việc đặt nền móng cho công cuộc truyền giáo, hội nhập văn hóa và xây dựng nền văn học Công giáo Việt nam, chúng ta thử lắng nghe những nhận xét thâm thúy sau đây của Đức Giám Mục Phêrô Nguyễn Soạn trong bài giảng lễ mừng Á Thánh Anrê Phú Yên tại Mằng Lăng ngày 26.07.2000 :


“Riêng về cha Đắc Lộ, cuộc đời và sự nghiệp của cha đã gắn liền với lịch sử Việt Nam. Trong lãnh vực loan báo Tin Mừng, mãi đến ngày nay Giáo Hội vẫn còn loay hoay tìm một đáp số cho cuộc gặp gỡ giữa sứ điệp Tin Mừng và văn hóa các dân tộc, mà khoa thần học gọi là tiến trình “Hội Nhập Văn Hóa”, thì gần 4 thế kỷ trước đây, cha Đắc Lộ đã có trực giác nhạy bén nếu không muốn nói là ân huệ lạ lùng – tìm thấy đáp số cho cuộc gặp gỡ nầy trên quê hương Việt Nam. Khi nói đến điều nầy, người ta nghĩ đến chữ Quốc Ngữ đã được thành hình do công lao đóng góp to lớn của cha, đến “Nhà Đức Chúa Trời” hay còn gọi là Hội Thầy Giảng do cha thành lập như một sáng kiến độc đáo thích nghi việc loan báo Tin Mừng trong bối cảnh xã hội khó khăn. Nhưng đáp số đầu tiên và chính xác nhất trên tiến trình hội nhập văn hóa nơi mảnh đất Việt Nam là cuộc sống và cái chết của Thầy giảng Anrê Phú Yên, Người Chứng Thứ Nhất của Giáo Hội Việt Nam.” ([9])


Để bổ túc cho nhận xét tổng quát trên và nhất là để có cái nhìn rõ hơn về vai trò và vị trí độc đáo của Thầy Giảng Á Thánh Anrê phú Yên và các kitô hữu vô danh khác, chúng ta thử nghe linh mục Roland Jacques OMI, chuyên viên sử học trong Ủy Ban Sử Học của HĐGMVN về vụ án phong Á Thánh cho Thầy giảng Anrê phát

    

Quay về
  Trang chủ | Tư liệu | Hình ảnh | Thông tin | Liên hệ | Nối kết
Copyright 2005, Andre Phú Yên - Designed by Nhu Nguyễn